Hãy phân tích truyện ngắn Vợ nhặt để làm sáng tỏ ý kiến sau:“Dù bị đẩy vào hoàn cảnh khốn cùng những người dân xóm ngụ cư vẫn yêu thương và khao khát hạnh phúc”.

I. Đặt vấn đề

Kim Lân là nhà văn một lòng đi về với “đất”, với “người”, với “thuần hậu nguyên thủy” của cuộc sống nông thôn. Bằng tình cảm, tâm hồn của một con người vốn là con đẻ của đồng ruộng, sau cách mạng Kim Lân có nhiều truyện ngắn hay viết về mảng đề tài này, tiêu biểu là tác phẩm “Vợ nhặt”. Ở truyện ngắn này, Kim Lân đã có những khám phá mới mẻ về người lao động: dù bị….hạnh phúc.

II. Giải quyết vấn đề

Giới thiệu tác phẩm:

– Truyện ngắn “Vợ nhặt” được in trong tập “Con chó xấu xí”, xuất bản năm 1962, tiền thân là truyện “Xóm ngụ cư”. Sau này tác phẩm được Kim Lân viết lại và đổi tên
.- Toàn bộ câu chuyện xoay quanh tình huống: anh cu Tràng dân xóm ngụ cư nhặt được vợ trong những ngày tối sầm vì đói khát. ” Qua đó nhà văn muốn thể hiện cái nhìn chân thực về cuộc sống và số phận của người nông dân trong nạn đói 1945 và vẻ đẹp sâu sắc trong tâm hồn họ.

Hoàn cảnh khốn cùng

– Bức tranh ngày đói được dựng lên bằng: hình ảnh, âm thanh, mùi vị.· Câu chuyện mở ra trong không khí thê thảm của người đói. Cái đói đã hiện ra ở những hình ảnh ghê rợn thảm thương: bóng người xanh xám như bóng ma. Cái đói làm cho con đường về làng trở nên khẳng khiu, lũ trẻ ngồi ủ rũ dưới những xó tường không buồn nhúc nhích
· Âm thanh của tiếng quạ kêu cứ gào lên từng hồi thê thiết, càng khiến bức tranh ngày đói trở nên ảm đạm.
· Bao trùm lên toàn bộ bức tranh ngày đói là mùi thối của rác rưởi và mùi gây của xác người.” Tất cả những âm thanh, hình ảnh, mùi vị đó gợi lên bầu không khí chết chóc của cõi âm, cõi địa ngục. Qua những trang văn của Kim Lân ta như được trải lòng cùng nỗi đau của cả dân tộc.
– Không chỉ dừng lại ở bức tranh chung, cái đói thực sự lan đến từng gia đình, đe dọa từng sinh mạng· Trong những ngày đói, miếng ăn trở thành vấn đề cấp thiết. Tất cả mọi người đều lo lắng cho sự tồn tại, giằng co giữa sự sống và cái chết. Ranh giới ấy thật mong manh. Cái đói đã đẩy người lao động đến bước đường cùng: giá trị con người trở nên rẻ rúng đến thảm hại. Người ta có thể nhặt được vợ như nhặt bất kì cái rơm cái rác vương trên đường. Tràng chỉ bằng bốn bát bánh đúc và mấy lời tầm phào, tầm phơ mà lấy được vợ.” Cái đói đã đẩy người vợ nhặt đến bước đường cùng, làm xấu đi cả nhân hình, nhân tính. Vì đói mà thị tả tơi, gầy sọp hẳn đi đến Tràng cũng không nhận ra. Vì đói mà thị trơ tráo bám lấy Tràng, gạ gẫm miếng ăn dù mới quen biết. Và thị đã không ngần ngại theo Tràng về nhà khi anh ta nói đùa “có về với tớ thì ra khuôn hàng lên xe cùng về”. Thân phận con người đã đẩy xuống hạng bèo bọt.· Cái đói còn hiện ra thảm hại trong gia đình Tràng: đêm tân hôn diễn ra trong tiếng hờ khóc tỉ tê, mùi đốt…Bữa ăn đón dâu mới chỉ có nùm rau chuối thái rối, một đĩa muối ăn với cháo…Mọi người ăn mà không dám nhìn nhau trong khi ngoài đường tiếng trống thúc thuế vẫn cứ dồn dập. Thật ai oán, xót xa.” Qua những trang văn của Kim Lân ta hiểu nỗi khốn cùng của người nông dân trong nạn đói 1945 và càng hiểu hơn tội ác của thực dân P và phát xít Nhật đã bắt nhân dân ta nhổ lúa trồng đay gây lên thảm cảnh đau đớn. Đó cũng là giá trị hiện thực sâu sắc của tác phẩm này.

Nhưng nét đặc sắc của tác phẩm là tác giả đã phát hiện ra vẻ đẹp trong tâm hồn con người “dù bị…”

Điều này thể hiện rõ qua diễn biến tâm lí của từng nhân vật từ sau khi Tràng nhặt được vợ

Tràng

– Tràng là người nông dân nghèo, là thành phần dân xóm ngụ cư, cái đói và miếng ăn vẫn là sự đe dọa thường xuyên đối với con người này. Thế mà bỗng dưng giữa ngày đói Tràng lại nhặt được vợ, khiến anh không khỏi lo lắng. Mới đầu anh cũng chợn nghĩ “thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng”. Nhưng ngay sau đó Tràng lại tặc lưỡi “chặc! kệ”. Nghe có vẻ tầm phơ, tầm phào nhưng thực là khát vọng hạnh phúc vốn sẵn có trong tâm hồn mà chính Tràng cũng không ý thức hết.
– Sau sự quyết định táo bạo ấy là cách xử sự đầy ân tình của Tràng đối với vợ: đưa vợ vào hàng cơm chén một bữa no nê, mua cho thị một cái thúng con và sẵn sàng tiêu hoang vì hạnh phúc của mình: bỏ ta 2 hào mua dầu thắp sáng, không hề có một thái độ khinh thị mà đầy trân trọng. Ở đây có sự đồng cảm, tương thân, tương ái.
– Tâm trạng trên đường về nhà:
– Niềm khao khát hạnh phúc đã có sức biến đổi từ một anh cu Tràng thô kệch vụng về, trở thành người đàn ông thực sự với những cảm xúc và cảm giác tinh tế.
· Niềm vui đã theo bước chân Tràng về xóm ngụ cư. Khác với vẻ mệt mỏi hàng ngày hôm nay trên nét mặt Tràng có “vẻ gì phớn phở khác thường. Hắn tủm tỉm cười một mình và hai con mắt sáng lên lấp lánh”.
· Niềm hạnh phúc mới khiến Tràng trở nên lãng mạn. Giữa không khí vắng vẻ, thoải mái Tràng cũng “định nói với thị một vài câu rõ tình tứ”. Và trong chốc lát “Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày, quên cả đói khát ghê gớm đang đe dọa…chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên”. Niềm hạnh phúc đã hiện hình ở người đàn ông thô tháp mộc mạc này “một cái gì mới mẻ, lạ lắm…sống lưng”.
– Tâm trạng trong buổi sáng hôm sau:
· Buổi sáng thức dậy, Tràng được sống trong những suy nghĩ, cảm xúc rất mới mẻ. Tràng thấy “trong người êm ái, lửng lơ như từ giấc mơ đi ra”.
· Những cảnh vật quen thuộc hàng ngày mà hôm nay Tràng thấy thân thiết lạ và trở nên thấm thía cảm động: bà cụ Tứ thì lúi húi giẫy cỏ, vợ hắn quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt. Âm thanh của tiếng chổi gieo vào lòng hắn cảm giác bình yên, ấm cúng “bỗng nhiên hắn thấy hắn yêu thương, gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng”. Những suy nghĩ đó chứng tỏ Tràng ý thức đầy đủ trách nhiệm chăm lo cho gia đình.
– Hình ảnh Việt Minh
Trong bữa cơm ngày đói, giữa những miếng cháo cám “đắng chát và nghẹn bứ trong cổ họng” Tràng thoáng thấy hiện lên hình ảnh lá cờ trên đê Sộp và đoàn người đi phá kho thóc của Nhật. Hai tiếng Việt Minh vang lên cùng với hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng bám riết tâm trí Tràng, đồng thời là niềm nuối tiếc vấn vơ.” Cách kết thúc khẳng định: con người như Tràng dù bị đẩy đến bước đường cùng vẫn kháo khát hướng tới tương lai, khao khát hạnh phúc. Ý tưởng của nhà văn thể hiện qua nhân vật thật sâu sắc.

Bà cụ Tứ

– Thấm thía nỗi trớ trêu của số kiếpBà cụ Tứ đánh giá, nhìn nhận việc T lấy vợ từ góc độ và tâm trạng khác. Là người đã từng trải, trước lời thông báo của Tràng, bà “cúi đầu nín lặng”. Bà đã cố kìm nén nỗi lòng mình nhưng “trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt”. Đó là những giọt nước mắt đầy ai oán xót thương cho số kiếp đứa con cho cảnh gia đình nghèo hèn của mình. Chính vì vậy, bà không tránh khỏi nỗi âu lo: “biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?”.
– Cùng với nỗi lo âu là cảm giác thương xót, cảm thông cho người đàn bà mới về làm dâu mình “người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ người ta mới lấy con mình. Mà con mình mới được có vợ”. “Mừng lòng” chứ không phải “bằng lòng” bởi dù cảnh gia đình nghèo khổ nhưng mơ ước về sự sum họp hạnh phúc luôn thường trực trong tâm thức người mẹ nghèo này. Cử chỉ của bà cụ Tứ khiến ta cảm động về sự cưu mang đùm bọc của người lao động theo đúng tinh thần lá lành đùm lá rách.
– Cảm động hơn nữa là người mẹ già không nguôi khao khát hạnh phúc. Người mẹ gần đất xa trời này lại là người chan chứa nhiều nhất những hi vọng, nói nhiều nhất đến tương lai. Trước việc Tràng có vợ người mẹ nghèo không khỏi xót xa, tủi cực bởi người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn lên làm nổi…còn con mình thì…Nhưng nỗi xót xa ấy nhanh chóng qua đi để lại trong tâm trí người mẹ nghèo vẫn là niềm khát khao hạnh phúc, hướng về sự sống, tương lai của con mình. Bà đã an ủi con mình bằng triết lí, bằng niềm tin của người nghèo: “ai giàu ba họ, ai khó ba đời”. Đó là niềm tin rất đáng trân trọng bởi nó nảy nở trong hoàn cảnh khốn cùng
.- Đặc biệt vào buổi sáng hôm sau người mẹ ấy đã có những thay đổi mới mẻ. Bà dậy sớm cùng con dâu thu dọn, “cái mặt bủng beo u ám” hàng ngày của bà hôm nay “rực rỡ hẳn lên”.
· Trong bữa cơm ngày đói chỉ có lùm chuối thái rối, ít muối ăn với cháo nhưng bà toàn nói chuyện vui, toàn chuyện sung sướng sau này. Hình ảnh đàn gà sinh sôi nảy nở cũng là biểu hiện của niềm tin, khát vọng hạnh phúc trong tâm hồn người mẹ nghèo.· Trong hoàn cảnh khốn cùng vì đói nghèo người mẹ nghèo không nghĩ tới cái chết mà hướng về sự sống, tương lai.

Chị vợ nhặt

– Thị chính là nạn nhân của cái đói. Cái đói làm thị xấu đi cả nhân hình, nhân tính. Vì đói mà thị hạ mình xuống, chấp nhận cái tiếng vợ nhặt, vợ theo. Nhưng ngay trong hành động tưởng liều lĩnh ấy nghĩ kĩ đó cũng là biểu hiện của niềm khát khao sống, khát khao hạnh phúc. Việc theo Tràng về làm vợ, vừa để chạy trốn cái đói nhưng đồng thời cũng là hành động đi tìm sự sống, đi tìm hạnh phúc cho mình
.- Kim Lân đã rất tinh tế khi điểm vào câu chuyện vài biểu hiện thất vọng về hoàn cảnh của Tràng cũng chẳng khác gì mình: “thị cố nén một tiếng thở dài”.
– Nhưng ở người đàn bà này vẫn thường trực một niềm khát khao sống, khát khao hạnh phúc nên dễ dàng chấp nhận hoàn cảnh. Thị có sự thay đổi hẳn. Trên đường về nhà thị đi sau T ba, bốn bước, đầu hơi cúi, nón rách che đi nửa mặt “rón rén, e thẹn”. Những chi tiết về cử chỉ, ngoại hình cho thấy rõ tâm trạng của một cô dâu mới khi về nhà chồng.
· Không còn đâu người đàn bà chao chát, chỏng lỏn Tràng gặp hôm trước, khi đã là nàng dâu thị trở nên là người đàn bà hiền hậu, đúng mực, nền nã, ra vào thu vén nhà cửa… Sự thay đổi ấy chính là thái độ vun đắp cho hạnh phúc gia đình.
– Trong bữa cơm “hai con mắt thị tối sầm lại” khi nhìn thấy bát cháo cám nhưng “thị điềm nhiên và vào miệng”. Câu hỏi về tiếng trống thúc thuế, thái độ ngạc nhiên khi thấy ở đây vẫn đóng thuế và câu chuyện nửa chừng về những người Thái Nguyên, Bắc Giang cho thấy đã có một luồng gió thổi vào tâm hồn thị. Cũng như Tràng, thị đang nghĩ về ngày mai tươi sáng.

Dân xóm ngụ cư

– Cùng với gia đình Tràng, dân xóm ngụ cư cũng là hình ảnh bổ sung làm rõ hơn cho chủ đề tác phẩm. Đang sống âm thầm lặng lẽ trong cái đói, người dân xóm ngụ cư chợt xôn xao bừng sáng hẳn lên trước việc Tràng đón vợ về. Dường như “có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối ấy của họ”. Luồng gió mát ấy chính là ý thức về sự sống, niềm khao khát hạnh phúc vẫn thường trực trong tâm hồn người dân xóm ngụ cư.” Trong bức tranh bi thảm ngày đói những người dân xóm ngụ cư không nghĩ đến cái chết mà nghĩ đến sự sống. Vẻ đẹp lành mạnh khỏe khoắn ấy trong tâm hồn người lao động mà Kim Lân phát hiện ra hôm nay có gì đó thật gần gũi với tâm hồn người lao động trong ca dao: Một cái trứng ung…Còn da lông mọc, còn trồi nảy cây ”Niềm khao khát sống, niềm tin vào tương lai đã tạo sức mạnh để người lao động vượt qua thử thách. Phát hiện ra vẻ đẹp này trong tâm hồn người lao động tác phẩm của Kim Lân mang giá trị nhân đạo sâu sắc.

III. Kết thúc vấn đề

Bằng ngòi bút miêu tả tâm lí sắc sảo Kim Lân đã tái hiện thành công diễn biến tâm trạng của người dân xóm ngụ cư quanh việc Tràng nhặt được vợ.Đi sâu vào khám phá diễn biến ấy người đọc hiểu hơn vẻ đẹp trong tâm hồn người lao động. Dù ở hoàn cảnh khốn cùng họ vấn nghĩ đến sự sống tương lai. Phát hiện ra vẻ đẹp đó, nhà văn đã tạo nên chiều sâu cho tác phẩm. Qua tác phẩm giúp ta có niềm tin vào cuộc sống, tương lai.

3 COMMENTS

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here